vunhanktb48
07-09-10, 09:39 AM
TRANH CHẤP TRONG HỢP ĐỒNG BÁN CHÈ
CÁC BÊN
Nguyên đơn: người mua Ba- Lan
Bị đơn:người bán Việt Nam
CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP
- Việc không đề cập các tiêu chí quy cách phẩm chất trong hợp đồng có giá trị rằng buộc các bên không?
- Việc trưng cầu giám định trong thời gian quá muộn có thời gian pháp lí không?
TÓM TẮT VỤ VIỆC
Nguyên đơn và bị đơn đã kí hợp đồng, theo đó, nguyên đơn mua của bị đơn 11 MT chè đen loại D và 10.5MTchè đen loại PS. Tổng giá trị hợp đồng là 21.695O USD FOB Hải Phòng, Incoterms 1990. Điều khoản về phẩm chất hàng hoá quy định:
Chè phải phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu:
- Thuỷ phần : tối đa 9,0%
- Tro : tối đa 6,5 %
- Tạp chất : tôi đa 0,3%
Thanh toán bằng thư tín dụng không huỷ ngang trên cơ sở xuất trình:
- Vận đơn hoàn hảo đã bốc hàng:3/3 bản gốc
- Hoá đơn thương mại :3 bản
- Phiếu đóng gói: 2 bản
- Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A GSP:2 bản
- Giấy chứng nhận kiểm dịch thực phẩm:2 bản
- Giấy chứng nhận phẩm chất và số lượng do Vinacontrol cấp:2 bản
- Fax thông báo giao hàng:2 bản
- Hoá đơn của bưu điện đã gửu chứng từ,mỗi thứ một bán bằng máy bay.
Căn cứ hợp đồng, bị đơn đã mời Vinacontrol giám định từ ngày 24/3 đến ngày 01/4/1998 và cấp chứng thư vào ngày 01/4/1998. Cùng ngày, hàng đã được gửi từ Hải Phòng đi Gdynia.
Tại cảng đến Gdynia, Nguyên đơn đã trưng cầu SGS tại Ba Lan giám định. Tuy nhiên, việc giám định được thực hiên sau khi hàng đã được dỡ khỏi tàu 6 tháng, theo chứng thư giám định của SGS tại Ba Lan cấp ngày 12/10/1998), thì kết quả giám định là:10,5 MT chè đen loại PS đạt yêu cầu quy định của hợp đồng, còn 11 MT chè đen loại D thì:
- Thuỷ phần: 8%
- Ferromagnetic (tạp chất chứa sắt tử tính ): 6,05%g/kg
- Tro không tan trong H2O: 11,14%
Vì hàm lượng Ferromagnetic và tro không tan trong H2O quá cao nên lô hàng này đã không được phép nhập vào Ba Lan do không thể dung vào mục đích thực phẩm.
Để chứng minh điều này Nguyên đơn đã gửi đến Hội đồng Trọng tài các vấn đề như sau:
- Văn thư của trạm vệ sinh dịch tễ tỉnh Gdynia ngày 28/5/1998.
- Văn thư của Cục thanh tra tiêu chuẩn hoá trung ương Ba Lan ngày 15/7/1998.
- Văn thư của Cục Hải quan Gdynia ngày 5/10/1998.
- Quyết định không cho nhập khẩu lô chè đen này của Thanh tra nhà nước vệ sinh tỉnh Gdynia ngày 28/5/1998.
Nguyên đơn đã gửi đơn khiếu nại đến Bị đơn ngày 27/7/1998 và đến ngày 2/11/1998. Bị đơn mới trả lời Nguyên đơn, trong đó Bị đơn từ chối mọi trách nhiệm liên quan.
Trên cơ sở đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn:
- Hoàn trả lại toàn bộ số tiền của 11 MT chè đen loại D ( mà Nguyên đơn đã thanh toán theo L/C số 1011 L 295679), trị giá 8.778 USD
- Cước phí vận chuyển lô hàng từ cảng Hải Phòng đến Gdynia:1.850 USD
- Trả tiền phạt do lưu giữ tàu ở cảng Ba Lan kể từ ngày 12/5/1998
- Chi phí lưu hàng tại cảng Gdynia ở Ba Lan
- Trả lãi đối với số tiền chậm trả kể từ ngày lẽ ra phải trả cho đến ngày thực trả số tiền đó, tính theo tỷ lệ do luật định
- Trả mọi phí tổn liên quan đến trao đổi thư từ, giao dịch , thuê tư vấn pháp lý…phát sinh mà Nguyên đơn đã phải chi trả.
Lập luận của Bị đơn:
- Theo điều 17 Hợp đồng đã ký kết, Bị đơn không chấp nhận những kết quả đã giám định không phải do tổ chức giám định độc lập tiến hành, ví dụ: Trạm vệ sinh dịch tễ tỉnh Gdynia…
- Chè đen là một mặt hàng nông sản có tính hấp thụ cao và dễ bị hư hỏng nếu để lâu, trong khi đó kết quả giám định của SGS lại dựa trên mẫu lấy ở lô hàng để quá lâu (hơn 6 tháng) kể từ ngày cấp vận đơn.
- Theo văn thư số SEIVB 44800 – 2a/21/98 của Thanh tra nhà nước Ba Lan về vệ sinh ở tỉnh Gdynia, lô chè đen loại D không sử dụng vào mục đích thực phẩm được là do “ có hàm lượng Ferromagnetic và tro không tan vào axit HCl” quá cao. Nhưng cả hai tiêu chí này lại không được các bên thoả thuận, cam kết trong hợp đồng.
- Hàng đã được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận phù hợp với Hợp đồng bởi Vinacontrol, một tổ chức giám định độc lập, được chỉ định theo điều 13 của Hợp đồng.
- Trên cơ sở lập luận đó, Bị đơn bác bỏ yêu cầu của Nguyên đơn.
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
(i) Về hiệu lực của các văn bản xác định chất lượng của hàng giao
Điều 175 Luật Thương mại Việt Nam quy định: “ Hàng được giám định theo thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá, trong trường hợp Hợp đồng không có quy định thì các bên có quyền lựa chọn tổ chức giám định”
Như vậy đã trình bày ở trên, khi hàng đến cảng Gdynia, Trạm vệ sinh dịch tễ tỉnh Gdynia đã tiến hành giám định lô hàng này vào ngày 28/5/1998. Tiếp đó từ ngày 10 đến ngày 12/10/1998, Nguyên đơn đã mời SGS, một cơ quan giám định độc lập có thẩm quyền giám định lại lô hàng. Cơ quan này đã cấp biên bản giám định vào ngày 12/10/1998. Như vậy, Nguyên đơn đã làm đúng nghĩa vụ của người mua theo thông lệ quốc tế và phủ hợp với Hợp đồng đã được ký kết vì Hợp đồng không quy định cụ thể về việc giám định hàng tại cảng bốc hàng là cuối cùng và dàng buộc hai bên. Do đó Bị đơn không thể không thừa nhận giá trị pháp lý cũng như hiệu lực của biên bản của SGS cấp .
Bị đơn cũng không thể viện vào lý do chè đen là mặt hàng nông sản có tính hấp thụ cao và dễ bị hư hỏng nếu để lâu , bởi vì cho dù có để lâu hơn nữa ( thậm chí là hơn 6 tháng) thì nguyên nhân mà lô hàng chè đen loại D mà Hải quan Ba Lan không cho phép nhập không phải vì ẩm mốc, vì tạp chất quá cao hay do sâu bọ, mối mọt…mà do trong chè có hàm lượng tạp chất sắt từ tính và tro không tan trong axit HCl quá cao, không thể đưa vào sử dụng làm thực phẩ (đồ uống ) cho con người được. Hàm lượng ferromangnetic cũng như hàm lượng tro không tan trong axit HCl không thể tăng lên (hoặc giảm xuống) do để quá lâu, thậm chí quá 6 tháng hoặc lâu hơn nữa.
Hội đồng Trọng tài cũng không tán thành quan điểm của Bị đơn, khi Bị đơn thoài thác trách nhiệm vì cho rằng hai tiêu chí: hàm lượng ferromangnetic và tro không tan trong axít không được các bên thoả thuận đưa vào Hợp đồng với ý nghĩa là tiêu chí để xác định phẩm chất theo “ tiêu chuẩn xuất khẩu” của chè. Hội đồng Trọng tài cho rằng, mặc dù hai tiêu chí không được quy định trong Hợp đồng nhưng để giải quyết tranh chấp này, Trọng tài không chỉ dựa vào Hợp đồng mà còn căn cứ vào luật áp dụng trong trường hợp Hợp đồng không quy định hoặc quy định không đầy đủ về những vấn đề liên quan đến tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đã ký kết.
Căn cứ vào Quyết định số 1343/TM-PC của Bộ trưởng bộ Thương mại Việt Nam về giám định hàng hoá xuất nhập khẩu, cơ sở để giám định là tiêu chuẩn Việt Nam thuộc diện bắt buộc phải áp dụng.Điều này cũng phù hợp với điều 14 của Hợp đồng giữa Nguyên đơn và Bị đơn. Theo tiêu chuẩn Vịêt Nam (TCVN 1454-1993) quy đinhj đối với mặt hàng là chè đen rời loại D thì tiêu chuẩn hàm lượng sắt không được lớn hơn 0,001%. Theo điều 14 của hợp đồng thì tro tối đa là 6,5%, thuỷ phần 9,0%, tạp chát tối đa 0.3%. Còn biên bản do SGS cấp, ngoài các tiêu chí khác đều phù hợp với hợp đồng, có đưa ra hai tiêu chí hàm lượng tro không tan trong H2O: 11,14% và hàm lượng sắt là :6.05g/kg. Trong khi đó , giấy chứng nhận kiểm tra phẩm chất do vinacontrol cấp chỉ nêu chung chung là hàng phù hợp với Hợp đồng, không phân tích về chỉ tiêu phảm chất hàng như Hợp đồng hay theo tiêu chuẩn Việt Nam đã quy định. Ngoài ra theo tiêu chuẩn của Trọng tài, Vinacontrol đã gửi cho Hội đồng Trọng tài văn bản giải trình về phẩm chất lô chè liên quan đến chứng thư giám định, do Vinacontrol cấp, trong đó, khẳng định rõ rằng chính Vinacontrol cũng đã lưu ý với bị đơn về hàm lượng sắt của lô chè loại D cao hơn mức bình thưòng và Bị đơn đã trả lời sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc này nếu bị khiếu kiện.
Với những lý lẽ nêu trên đây, Hội đồng Trọng tài cho rằng Bị đơn phải chịu trách nhiệm về việc giao hàng không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu của Việt Nam đối với chè đen loại D.
(ii) Về yêu cầu đòi bồi thường của Nguyên đơn
Nguyên đơn cũng tổ ra thiếu sự kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện Hợp đồng :chưa kiểm tra chất lượng của chè cũng như chưa kiểm tra tính chuẩn mực của giấy chứng nhận, chất lượng , số lượng của Vinacantrol mà đã mở L/C- tức là đã có hành vi chấp nhạn hàng- Do đó, Nguyên đơn cũng phải chia sẻ phàn thiệt hại phát sinh.
Ngoài ra, trong 6 khoản mục yêu cầu Bị đơn chỉ tính toán cụ thể được một số chi phí. Các yêu cầu còn lại Nguyên đơn đã không tính được bằng con số cụ thể trước Trọng tài, do đó, Hội đồng Trọng tài không chấp nhận.
Từ những phân tích trên Hội đồng Trọng tài đã quyết định như sau:
- Buộc Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn số tiền là 8.778 USD tiền hàng và 1.850 USD tiền cước phí từ Hải Phòng đến Gdynia.
- Bị đơn phải chịu hoàn toàn phí trọng tài.
BÌNH LUẬT VÀ LƯU Ý
Trong kinh doanh chữ “tín “ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chữ “ tín” không chỉ thể hiện thương hiệu của doạnh nghiệp trên thương trường mà còn thể hiện văn hoá, đạo đức trong kinh doanh. Là một nhà xuất khẩu chuyên nghiệp, Bị đơn không thể vì mục tiêu lợi nhuận mà bỏ qua các giá trị khác. Chè là một thực phẩm để phục vụ con người, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người. Khi giám định hàng, Bị đơn đã được cơ quan giám định cảnh báo về các chỉ tiêu của chè không đảm bảo yêu cầu nhưng
Bị đơn đã cố tình bỏ qua để bán được hàng.
Khi có khiếu nại của Nguyên đơn, Bị đơn phải có tinh thần hợp tác với Nguyên đơn để giải quyết vấn đề nhưng Bị đơn lại tỏ ra thiếu thiện chí trong việc khẩn trưong trả lời đơn khiếu nại của Nguyên đơn.
Về phía Nguyên đơn, do chủ quan và quá tin vào đối tác làm ăn mà Nguyên đơn đã không cẩn trọng trong việc xác định phẩm chất của chè đen rời loại D, mặc dù đây là lần đầu tiên Nguyên đơn mua loại chè đen này, gây ra tranh chấp, lãng phí thời gian và tiền của. Lẽ ra ngay khi nhận hàng, Nguyên đơn phải tiến hành giám định ngay, Nguyên đơn để thời gian kéo dài hơn 6 tháng mới giám định là quá lâu. Điều này rất dễ làm cho Nguyên đơn ( hoặc nói chung là các nhà nhập khẩu) phải gánh chịu các rủi ro khi gặp phải những đối tác thiếu thiện chí, chỉ mong sao bán được hàng, lập xong bộ chứng từ để lấy được tiền. khi đó, cho dù Nguyên đơn có thắng kiện thì cũng khó lấy lại được tiện. Ngoài ra , khi tién hành vụ kiện phải chuản bị đầy đủ chứng từ để chứng minh cho yêu cầu của mình, nếu không thì những yêu cầu này chắc chắn là không được chấp nhận.
CÁC BÊN
Nguyên đơn: người mua Ba- Lan
Bị đơn:người bán Việt Nam
CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC ĐỀ CẬP
- Việc không đề cập các tiêu chí quy cách phẩm chất trong hợp đồng có giá trị rằng buộc các bên không?
- Việc trưng cầu giám định trong thời gian quá muộn có thời gian pháp lí không?
TÓM TẮT VỤ VIỆC
Nguyên đơn và bị đơn đã kí hợp đồng, theo đó, nguyên đơn mua của bị đơn 11 MT chè đen loại D và 10.5MTchè đen loại PS. Tổng giá trị hợp đồng là 21.695O USD FOB Hải Phòng, Incoterms 1990. Điều khoản về phẩm chất hàng hoá quy định:
Chè phải phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu:
- Thuỷ phần : tối đa 9,0%
- Tro : tối đa 6,5 %
- Tạp chất : tôi đa 0,3%
Thanh toán bằng thư tín dụng không huỷ ngang trên cơ sở xuất trình:
- Vận đơn hoàn hảo đã bốc hàng:3/3 bản gốc
- Hoá đơn thương mại :3 bản
- Phiếu đóng gói: 2 bản
- Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu A GSP:2 bản
- Giấy chứng nhận kiểm dịch thực phẩm:2 bản
- Giấy chứng nhận phẩm chất và số lượng do Vinacontrol cấp:2 bản
- Fax thông báo giao hàng:2 bản
- Hoá đơn của bưu điện đã gửu chứng từ,mỗi thứ một bán bằng máy bay.
Căn cứ hợp đồng, bị đơn đã mời Vinacontrol giám định từ ngày 24/3 đến ngày 01/4/1998 và cấp chứng thư vào ngày 01/4/1998. Cùng ngày, hàng đã được gửi từ Hải Phòng đi Gdynia.
Tại cảng đến Gdynia, Nguyên đơn đã trưng cầu SGS tại Ba Lan giám định. Tuy nhiên, việc giám định được thực hiên sau khi hàng đã được dỡ khỏi tàu 6 tháng, theo chứng thư giám định của SGS tại Ba Lan cấp ngày 12/10/1998), thì kết quả giám định là:10,5 MT chè đen loại PS đạt yêu cầu quy định của hợp đồng, còn 11 MT chè đen loại D thì:
- Thuỷ phần: 8%
- Ferromagnetic (tạp chất chứa sắt tử tính ): 6,05%g/kg
- Tro không tan trong H2O: 11,14%
Vì hàm lượng Ferromagnetic và tro không tan trong H2O quá cao nên lô hàng này đã không được phép nhập vào Ba Lan do không thể dung vào mục đích thực phẩm.
Để chứng minh điều này Nguyên đơn đã gửi đến Hội đồng Trọng tài các vấn đề như sau:
- Văn thư của trạm vệ sinh dịch tễ tỉnh Gdynia ngày 28/5/1998.
- Văn thư của Cục thanh tra tiêu chuẩn hoá trung ương Ba Lan ngày 15/7/1998.
- Văn thư của Cục Hải quan Gdynia ngày 5/10/1998.
- Quyết định không cho nhập khẩu lô chè đen này của Thanh tra nhà nước vệ sinh tỉnh Gdynia ngày 28/5/1998.
Nguyên đơn đã gửi đơn khiếu nại đến Bị đơn ngày 27/7/1998 và đến ngày 2/11/1998. Bị đơn mới trả lời Nguyên đơn, trong đó Bị đơn từ chối mọi trách nhiệm liên quan.
Trên cơ sở đó, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn:
- Hoàn trả lại toàn bộ số tiền của 11 MT chè đen loại D ( mà Nguyên đơn đã thanh toán theo L/C số 1011 L 295679), trị giá 8.778 USD
- Cước phí vận chuyển lô hàng từ cảng Hải Phòng đến Gdynia:1.850 USD
- Trả tiền phạt do lưu giữ tàu ở cảng Ba Lan kể từ ngày 12/5/1998
- Chi phí lưu hàng tại cảng Gdynia ở Ba Lan
- Trả lãi đối với số tiền chậm trả kể từ ngày lẽ ra phải trả cho đến ngày thực trả số tiền đó, tính theo tỷ lệ do luật định
- Trả mọi phí tổn liên quan đến trao đổi thư từ, giao dịch , thuê tư vấn pháp lý…phát sinh mà Nguyên đơn đã phải chi trả.
Lập luận của Bị đơn:
- Theo điều 17 Hợp đồng đã ký kết, Bị đơn không chấp nhận những kết quả đã giám định không phải do tổ chức giám định độc lập tiến hành, ví dụ: Trạm vệ sinh dịch tễ tỉnh Gdynia…
- Chè đen là một mặt hàng nông sản có tính hấp thụ cao và dễ bị hư hỏng nếu để lâu, trong khi đó kết quả giám định của SGS lại dựa trên mẫu lấy ở lô hàng để quá lâu (hơn 6 tháng) kể từ ngày cấp vận đơn.
- Theo văn thư số SEIVB 44800 – 2a/21/98 của Thanh tra nhà nước Ba Lan về vệ sinh ở tỉnh Gdynia, lô chè đen loại D không sử dụng vào mục đích thực phẩm được là do “ có hàm lượng Ferromagnetic và tro không tan vào axit HCl” quá cao. Nhưng cả hai tiêu chí này lại không được các bên thoả thuận, cam kết trong hợp đồng.
- Hàng đã được kiểm tra và cấp giấy chứng nhận phù hợp với Hợp đồng bởi Vinacontrol, một tổ chức giám định độc lập, được chỉ định theo điều 13 của Hợp đồng.
- Trên cơ sở lập luận đó, Bị đơn bác bỏ yêu cầu của Nguyên đơn.
QUYẾT ĐỊNH CỦA TRỌNG TÀI
(i) Về hiệu lực của các văn bản xác định chất lượng của hàng giao
Điều 175 Luật Thương mại Việt Nam quy định: “ Hàng được giám định theo thoả thuận giữa các bên trong hợp đồng mua bán hàng hoá, trong trường hợp Hợp đồng không có quy định thì các bên có quyền lựa chọn tổ chức giám định”
Như vậy đã trình bày ở trên, khi hàng đến cảng Gdynia, Trạm vệ sinh dịch tễ tỉnh Gdynia đã tiến hành giám định lô hàng này vào ngày 28/5/1998. Tiếp đó từ ngày 10 đến ngày 12/10/1998, Nguyên đơn đã mời SGS, một cơ quan giám định độc lập có thẩm quyền giám định lại lô hàng. Cơ quan này đã cấp biên bản giám định vào ngày 12/10/1998. Như vậy, Nguyên đơn đã làm đúng nghĩa vụ của người mua theo thông lệ quốc tế và phủ hợp với Hợp đồng đã được ký kết vì Hợp đồng không quy định cụ thể về việc giám định hàng tại cảng bốc hàng là cuối cùng và dàng buộc hai bên. Do đó Bị đơn không thể không thừa nhận giá trị pháp lý cũng như hiệu lực của biên bản của SGS cấp .
Bị đơn cũng không thể viện vào lý do chè đen là mặt hàng nông sản có tính hấp thụ cao và dễ bị hư hỏng nếu để lâu , bởi vì cho dù có để lâu hơn nữa ( thậm chí là hơn 6 tháng) thì nguyên nhân mà lô hàng chè đen loại D mà Hải quan Ba Lan không cho phép nhập không phải vì ẩm mốc, vì tạp chất quá cao hay do sâu bọ, mối mọt…mà do trong chè có hàm lượng tạp chất sắt từ tính và tro không tan trong axit HCl quá cao, không thể đưa vào sử dụng làm thực phẩ (đồ uống ) cho con người được. Hàm lượng ferromangnetic cũng như hàm lượng tro không tan trong axit HCl không thể tăng lên (hoặc giảm xuống) do để quá lâu, thậm chí quá 6 tháng hoặc lâu hơn nữa.
Hội đồng Trọng tài cũng không tán thành quan điểm của Bị đơn, khi Bị đơn thoài thác trách nhiệm vì cho rằng hai tiêu chí: hàm lượng ferromangnetic và tro không tan trong axít không được các bên thoả thuận đưa vào Hợp đồng với ý nghĩa là tiêu chí để xác định phẩm chất theo “ tiêu chuẩn xuất khẩu” của chè. Hội đồng Trọng tài cho rằng, mặc dù hai tiêu chí không được quy định trong Hợp đồng nhưng để giải quyết tranh chấp này, Trọng tài không chỉ dựa vào Hợp đồng mà còn căn cứ vào luật áp dụng trong trường hợp Hợp đồng không quy định hoặc quy định không đầy đủ về những vấn đề liên quan đến tranh chấp phát sinh từ hợp đồng đã ký kết.
Căn cứ vào Quyết định số 1343/TM-PC của Bộ trưởng bộ Thương mại Việt Nam về giám định hàng hoá xuất nhập khẩu, cơ sở để giám định là tiêu chuẩn Việt Nam thuộc diện bắt buộc phải áp dụng.Điều này cũng phù hợp với điều 14 của Hợp đồng giữa Nguyên đơn và Bị đơn. Theo tiêu chuẩn Vịêt Nam (TCVN 1454-1993) quy đinhj đối với mặt hàng là chè đen rời loại D thì tiêu chuẩn hàm lượng sắt không được lớn hơn 0,001%. Theo điều 14 của hợp đồng thì tro tối đa là 6,5%, thuỷ phần 9,0%, tạp chát tối đa 0.3%. Còn biên bản do SGS cấp, ngoài các tiêu chí khác đều phù hợp với hợp đồng, có đưa ra hai tiêu chí hàm lượng tro không tan trong H2O: 11,14% và hàm lượng sắt là :6.05g/kg. Trong khi đó , giấy chứng nhận kiểm tra phẩm chất do vinacontrol cấp chỉ nêu chung chung là hàng phù hợp với Hợp đồng, không phân tích về chỉ tiêu phảm chất hàng như Hợp đồng hay theo tiêu chuẩn Việt Nam đã quy định. Ngoài ra theo tiêu chuẩn của Trọng tài, Vinacontrol đã gửi cho Hội đồng Trọng tài văn bản giải trình về phẩm chất lô chè liên quan đến chứng thư giám định, do Vinacontrol cấp, trong đó, khẳng định rõ rằng chính Vinacontrol cũng đã lưu ý với bị đơn về hàm lượng sắt của lô chè loại D cao hơn mức bình thưòng và Bị đơn đã trả lời sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc này nếu bị khiếu kiện.
Với những lý lẽ nêu trên đây, Hội đồng Trọng tài cho rằng Bị đơn phải chịu trách nhiệm về việc giao hàng không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu của Việt Nam đối với chè đen loại D.
(ii) Về yêu cầu đòi bồi thường của Nguyên đơn
Nguyên đơn cũng tổ ra thiếu sự kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện Hợp đồng :chưa kiểm tra chất lượng của chè cũng như chưa kiểm tra tính chuẩn mực của giấy chứng nhận, chất lượng , số lượng của Vinacantrol mà đã mở L/C- tức là đã có hành vi chấp nhạn hàng- Do đó, Nguyên đơn cũng phải chia sẻ phàn thiệt hại phát sinh.
Ngoài ra, trong 6 khoản mục yêu cầu Bị đơn chỉ tính toán cụ thể được một số chi phí. Các yêu cầu còn lại Nguyên đơn đã không tính được bằng con số cụ thể trước Trọng tài, do đó, Hội đồng Trọng tài không chấp nhận.
Từ những phân tích trên Hội đồng Trọng tài đã quyết định như sau:
- Buộc Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn số tiền là 8.778 USD tiền hàng và 1.850 USD tiền cước phí từ Hải Phòng đến Gdynia.
- Bị đơn phải chịu hoàn toàn phí trọng tài.
BÌNH LUẬT VÀ LƯU Ý
Trong kinh doanh chữ “tín “ có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Chữ “ tín” không chỉ thể hiện thương hiệu của doạnh nghiệp trên thương trường mà còn thể hiện văn hoá, đạo đức trong kinh doanh. Là một nhà xuất khẩu chuyên nghiệp, Bị đơn không thể vì mục tiêu lợi nhuận mà bỏ qua các giá trị khác. Chè là một thực phẩm để phục vụ con người, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người. Khi giám định hàng, Bị đơn đã được cơ quan giám định cảnh báo về các chỉ tiêu của chè không đảm bảo yêu cầu nhưng
Bị đơn đã cố tình bỏ qua để bán được hàng.
Khi có khiếu nại của Nguyên đơn, Bị đơn phải có tinh thần hợp tác với Nguyên đơn để giải quyết vấn đề nhưng Bị đơn lại tỏ ra thiếu thiện chí trong việc khẩn trưong trả lời đơn khiếu nại của Nguyên đơn.
Về phía Nguyên đơn, do chủ quan và quá tin vào đối tác làm ăn mà Nguyên đơn đã không cẩn trọng trong việc xác định phẩm chất của chè đen rời loại D, mặc dù đây là lần đầu tiên Nguyên đơn mua loại chè đen này, gây ra tranh chấp, lãng phí thời gian và tiền của. Lẽ ra ngay khi nhận hàng, Nguyên đơn phải tiến hành giám định ngay, Nguyên đơn để thời gian kéo dài hơn 6 tháng mới giám định là quá lâu. Điều này rất dễ làm cho Nguyên đơn ( hoặc nói chung là các nhà nhập khẩu) phải gánh chịu các rủi ro khi gặp phải những đối tác thiếu thiện chí, chỉ mong sao bán được hàng, lập xong bộ chứng từ để lấy được tiền. khi đó, cho dù Nguyên đơn có thắng kiện thì cũng khó lấy lại được tiện. Ngoài ra , khi tién hành vụ kiện phải chuản bị đầy đủ chứng từ để chứng minh cho yêu cầu của mình, nếu không thì những yêu cầu này chắc chắn là không được chấp nhận.